Thứ Ba, 23 tháng 2, 2016

Không nên uống trà ngay sau khi ăn

Không nên uống trà ngay sau khi ăn

Chúng ta thường có thói quen uống trà ngay sau khi rời khỏi bàn ăn vì cho rằng điều này vừa giúp làm sạch miệng, vừa có lợi cho hệ tiêu hoá. Quan niệm này hoàn toàn sai lầm.

Các chuyên gia dinh dưỡng Trung Quốc khuyên rằng: Hãy từ bỏ ngay thói quen uống trà ngay sau khi ăn nếu bạn muốn cơ thể mình luôn khoẻ mạnh.

Người Trung Quốc có câu: “Uống trà ngay sau bữa ăn không khác gì uống thuốc độc”. Trong nước trà có chứa một hàm lượng lớn tannin và các hợp chất có tính kiềm. 2 chất này có ảnh hưởng xấu tới hệ tiêu hoá của cơ thể vì sau khi đi vào dạ dày chúng có khả năng gây ức chế quá trình phân giải các chất dinh dưỡng có trong thức ăn, từ đó dễ dẫn tới đầy bụng, khó tiêu. 

Ngoài ra, tanin khi kết hợp với prôtein có trong các thực phẩm như: thịt, trứng, sữa, thực phẩm họ đậu… sẽ tạo thành các chất cặn khó tiêu, các chất kết tủa và tạo sỏi. Lâu ngày có thể dẫn tới bệnh sỏi thận. Tanin còn gây phản ứng với các khoáng chất có gốc kim loại trong thức ăn như: sắt, magiê, kẽm, tạo ra các axít gây hại cho dạ dày.

Trong dạ dày có chứa sẵn các men tiêu hoá và axit giúp quá trình tiêu hoá thức ăn dễ dàng hơn. Tuy nhiên, uống trà ngay sau khi ăn cũng sẽ “làm loãng” các men tiêu hoá này, từ đó hạn chế khả năng tiêu hoá của dạ dày.

Các thực nghiệm cũng chỉ ra rằng dù chỉ là 15ml nước trà ngay sau bữa ăn cũng làm giảm tới 50% khả năng hấp thụ sắt của cơ thể. Trà càng đặc thì lượng sắt cơ thể hấp thụ càng thấp. Lâu ngày có thể gây ra hiện tượng thiểu máu do thiếu sắt.

Các chuyên gia dinh dưỡng cũng khuyên chúng ta cũng nên hạn chế uống trà trước bữa ăn. Nếu có chỉ là trà hoa cúc nhạt. Loại trà này sẽ không ảnh hưởng tới hệ tiêu hoá.

1 cốc nước lọc sau khi ăn sẽ là sự lựa chọn tốt nhất cho bạn. Bạn chỉ nên uống trà sau bữa ăn từ 1 - 2 tiếng.

Theo footmate/DT

Bệnh suy tĩnh mạch (3 bài)

Bệnh suy tĩnh mạch (3 bài)


BÀI 1. SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH



Một nguyên nhân gây phù chân ít được biết đến

I. Đại cương:

Ở các nước tiên tiến như Châu Âu, Mỹ v.v…, bệnh lý tĩnh mạch có một ý nghĩa Y tế-Xã hội khá quan trọng vì bệnh rất thường gặp. Theo các thống kê ở Pháp, bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chiếm đến 1% ở nam giới và 4,5% nữ giới ở tuổi trưởng thành, trong đó có hơn 70% là nữ và khoảng 35% ở những người đang làm việc.
Ở Việt Nam, trên thực tế bệnh cũng rất thường gặp nhưng chưa thực sự có được sự chú ý của cả thầy thuốc và bệnh nhân. Cho đến nay, chưa có một thống kê đầy đủ về loại bệnh này. Tuy nhiên, theo dự đoán của các chuyên gia Y tế, bệnh sẽ gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thay đổi nếp sống ở nước ta.

Chúng tôi còn nhớ trong lần thực tập tại Pháp về phẫu thuật mạch máu tháng 3-1994, Bác sĩ Pierre Desoutter, trưởng khoa Phẫu thuật mạch máu bệnh viện Juvisy phía nam thủ đô Paris đã nói với các Bác sĩ Việt Nam đến thực tập ở đây rằng: “Phẫu thuật Striping (phẫu thuật lấy đi các tĩnh mạch nông bị giãn) là phẫu thuật đầu tay của người Bác sĩ Phẫu thuật viên về mạch máu” và ông bắt chúng tôi phải làm thuần thục phẫu thuật này trước khi kết thúc đợt thực tập.

II. Giải phẫu tĩnh mạch chi dưới:

Các tĩnh mạch của chi dưới được phân chia làm 3 hệ thống: hệ nông, hệ sâu và hệ xuyên:

- Hệ tĩnh mạch sâu là các tĩnh mạch đi kèm với động mạch như tĩnh mạch chày, tĩnh mạch mác, tĩnh mạch chậu v.v…các tĩnh mạch càng lớn càng có ít van, tĩnh mạch chủ hầu như không có van và các tĩnh mạch này không bao giờ bị giãn, bệnh chủ yếu của hệ thống tĩnh mạch này là viêm tắc tĩnh mạch.

- Hệ tĩnh mạch nông ở chi dưới có hai nhóm: tĩnh mạch hiển ngoài và tĩnh mạch hiển trong. Tĩnh mạch hiển trong lớn và ở mặt trong của đùi đi từ mặt trước của mắt cá trong đến chỗ nối tĩnh mạch đùi-chậu (ngay nếp bẹn). Tĩnh mạch hiển ngoài nhỏ và nằm ở phía ngoài đi từ mặt trước mắt cá ngoài lên đến khoeo chân và đổ vào tĩnh mạch khoeo. Ngoài ra, nó còn bao gồm cả các tĩnh mạch dưới da. Bệnh lý suy tĩnh mạch mạn tính thường hay xảy ra ở hệ thống này.

- Hệ tĩnh mạch xuyên có nhiệm vụ đưa máu từ hệ thống tĩnh mạch nông vào hệ tĩnh mạch sâu bao gồm nhiều nhóm.

Máu di chuyển trong lòng tĩnh mạch theo chiều từ nông vào sâu và từ dưới lên trên nhờ hệ thống van mở ra khi máu đi về trung tâm đóng lại không cho máu chảy ngược và lực hút do hoạt động của cơ hoành, sức hút của tim, áp lực âm vùng trung thất cùng lực đẩy do hoạt động của hệ thống cơ. Tùy theo vị trí và nguyên nhân của tổn thương bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới được chia làm 4 nhóm:

- Nhóm giãn tĩnh mạch tiên phát hay còn gọi là giãn tĩnh mạch vô căn: trong nhóm này, ban đầu các tĩnh mạch bị giãn và dài ra sau đó các van tĩnh mạch mất dần chức năng.

- Nhóm giãn tĩnh mạch thứ phát, thường do viêm tĩnh mạch: Ở nhóm này các van tĩnh mạch bị mất chức năng trước, sau đó các tĩnh mạch mới bị giãn và dài ra.

- Giãn tĩnh mạch ở người có thai, do tác dụng của nội tiết tố sinh dục nữ và chèn ép của tử cung bị to ra khi có thai.

- Giãn tĩnh mạch bẩm sinh, nguyên nhân do bất thường của thành tĩnh mạch làm nghẹt tĩnh mạch sâu và dò động tĩnh mạch (dạng u máu hỗn hợp).

III. Biến chứng của giãn tĩnh mạch:

- Trước tiên là các biến chứng về rối loạn huyết động học: cẳng chân bệnh nhân bị sưng to, có triệu chứng đau buốt mặt sau cẳng chân, chuột rút về đêm.

- Nặng hơn bệnh nhân có thể bị viêm tắc tĩnh mạch, chân nóng, sưng đỏ, các tĩnh mạch nông nổi rõ và viêm cứng.

- Giai đoạn cuối cùng có thể diễn tiến đến tình trạng giãn to toàn bộ hệ tĩnh mạch, các tĩnh giãn rất lớn, ứ trệ tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng của da chân phía dưới gây viêm loét, nhiễm trùng rất khó điều trị.

- Cục thuyên tắc có thể tách rời khỏi thành tĩnh mạch, đi về tim và gây thuyên tắc động mạch phổi, một biến chứng rất nặng có thể đưa đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.

IV. Các yếu tố nguy cơ:

- Trên thực tế không phải người nào cũng có khả năng bị bệnh này, chỉ có một số người thuộc nhóm có nguy cơ cao là hay mắc bệnh. Di truyền là mẫu số chung cho những bệnh nhân này, trong thực hành bệnh viện hàng ngày chúng tôi nhận thấy có một số người về di truyền dễ bị mắc bệnh hơn những người khác, nguyên nhân do những thay đổi về enzyme trong mô liên kết. Nữ thường bị nhiều hơn nam do ảnh hưởng của nội tiết tố nữ, thai nghén lên thành tĩnh mạch, do phải đứng lâu trong một số ngành nghề đặc biệt như bán hàng, thợ dệt, do khối lượng cơ thấp hoặc dùng giày không thích hợp.

- Tăng trọng quá mức cũng là một yếu tố nguy cơ vì lực tác động từ phía trước để hút máu về bị giảm và các dòng trào ngược ly tâm phát sinh do gia tăng áp lực từ ổ bụng.

- Chủng tộc có ít nhiều ảnh hưởng đến bệnh này, trừ khi chúng được kết hợp với sự phát triển về kinh tế và thay đổi cách sống. Tại Pháp, cộng đồng người dân di cư đến từ các nước vùng bắc Phi rất hay bị bệnh giãn tĩnh mạch, đa số họ đều là những người dân nghèo, sống trong những điều kiện vật chất thiếu kém và phải làm những việc nặng nhọc, đứng lâu, nhiệt độ cao ở vùng chân: nội trợ, giặt quần áo, thợ dệt, tài xế v.v…

- Thuốc ngừa thai do sử dụng nội tiết tố nên cũng là một yếu tố nguy cơ như thai nghén.

- Phẫu thuật có thể gây ra biến chứng huyết khối tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch nhất là những phẫu thuật vùng tiểu khung như phẫu thuật trong sản khoa và niệu khoa các thủ thuật khác như bó bột, bất động lâu trong gãy xương v.v… Tuy nhiên, gần đây tầm quan trọng của yếu tố nguy cơ này đã giảm bớt.

- Những bệnh do theo chế độ ăn kiêng có nhiều chất bột, ít chất xơ hay bị táo bón cũng rất dễ bị giãn tĩnh mạch.

V. Các triệu chứng chính và chẩn đoán:

- Theo một thống kê nghiên cứu đa trung tâm do Trường Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh chủ xướng: Đa số bệnh nhân 77,6% không hề biết về bệnh tĩnh mạch trước đó. Điều này nói lên thực trạng về bệnh lý tĩnh mạch ở nước ta, trong đó chủ yếu là bệnh nhân ít quan tâm, ngại đi khám, thầy thuốc coi nhẹ và bỏ sót các triệu chứng. Trong đó, 91,3% bệnh nhân không được điều trị và 8,7% được điều trị không đúng phương pháp chủ yếu là sử dụng các loại thuốc chữa triệu chứng như Aspirin, lợi tiểu hoặc các loại thuốc ĐôngY.

- Các triệu chứng thường gặp nhất trong giai đoạn đầu là phù hai chi dưới đi kèm với cảm giác nặng, chuột rút về ban đêm, triệu chứng này sẽ bớt khi bệnh nhân kê chân cao buổi tối khi đi ngủ. Về sau, các triệu chứng nặng dần và xuất hiện các mảng rối loạn dinh dưỡng trên da và các tĩnh mạch giãn dần, nổi ngoằn nghoèo, có thể có những đợt viêm tắc tĩnh mạch với các triệu chứng nhiễm trùng toàn thân như sốt cao, môi khô lưỡi dơ và tại chỗ tĩnh mạch bị viêm đỏ, bên trong lòng xuất hiện những cục thuyên tắc cứng v.v…

- Việc xác định chẩn đoán chủ yếu dựa vào khám lâm sàng bao gồm nhìn thấy những đoạn tĩnh mạch bị giãn, ngoằn ngoèo, da đổi màu, rối loạn dinh dưỡng, loét và sự xuất hiện của các u máu.

- Sờ để biết được độ cứng của phần mềm, đặc biệt là vùng trước xương chày, so sánh cả hai bên. Ngoài ra, có thể sờ thấy cả một đoạn tĩnh mạch cứng, phù nề, các cục thuyên tắc và xác định nhiệt độ của da.

- Với các thầy thuốc chuyên khoa, có thể áp dụng một số thủ thuật để đánh giá tình trạng của các van tĩnh mạch hiển trong như: thủ thuật Schwarz, thủ thuật ho, thủ thuật Trendelenburg và thủ thuật Perthe.

- Cuối cùng, chẩn đoán được xác định bằng siêu âm Doppler màu mạch máu, với phương pháp này cho phép chúng ta xác định được những rối loạn huyết động học, tình trạng của các van tĩnh mạch, mức độ giãn của tĩnh mạch và các cục thuyên tắc trong lòng mạch để từ đó có thái độ điều trị đúng đắn.

VI. Điều trị: 

Có 5 phương pháp điều trị chính nhằm kiểm soát hay chặn đứng sự trào ngược, loại bỏ trào ngược từ các tĩnh mạch nhánh và từ các mạch nối, cuối cùng là ngăn ngừa sự tràn ngập mô kẽ do dịch thấm ra từ các vi quản.

- Phòng ngừa: Phương pháp này nhằm chặn đứng sự trào ngược và làm cho các lực tác động lên dòng chảy của tĩnh mạch được tốt hơn. Bao gồm: Để chân cao khi nằm nghỉ, tập cơ mạnh hơn, tránh đứng hay ngồi lâu, mang vớ thun hay quấn chân bằng băng thun, sửa lại vị trí bàn chân đối với các dị tật, tránh béo phì, tập hít thở sâu, ăn chế độ có nhiều chất xơ để tránh táo bón v.v…

- Băng ép nhằm phục hồi áp suất chênh lệch giữa hai hệ thống tĩnh mạch nông và sâu thông qua hệ thống xuyên, giảm đường kính của lòng tĩnh mạch để tăng khả năng vận chuyển khi nghỉ ngơi cũng như khi gắng sức.

- Điều trị nội khoa với các thuốc làm bền thành mạch như Daflon, Rutin C, Veinamitol v.v… nhưng phần lớn chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu của giãn tĩnh mạch. Một số thầy thuốc chuyên khoa còn áp dụng phương pháp tiêm gây xơ tại chỗ với các thuốc làm xơ hóa lòng mạch máu.

- Phẫu thuật với hai phương pháp chính: Lấy bỏ các tĩnh mạch nông bị giãn gọi là phương pháp Stripping bằng một dụng cụ chuyên dùng cho phép rút các tĩnh mạch như chúng ta làm lòng gà và phương pháp Chivas lấy các đoạn tĩnh mạch bị giãn của hệ thống xuyên, đây là phương pháp điều trị khá triệt để có tỷ lệ tái phát thấp nhất. Ngoài ra, hiện nay người ta còn áp dụng phương pháp làm lạnh với Nitơ lỏng âm 90oC để làm nghẹt lòng tĩnh mạch qua một ống thông trong lòng tĩnh mạch, tuy nhiên phương pháp này cho tỷ lệ tái phát khá cao đến 30% các trường hợp.

Nhân loại đã sắp sửa bước sang một thiên niên kỷ mới, bao nhiêu thành tựu khoa học đã đạt được trong đó phải kể đến những thành tựu lớn trong Y học kể cả trong lĩnh vực nghiên cứu và điều trị các bệnh lý về mạch máu. Tuy nhiên, theo chúng tôi những người thầy thuốc điều mấu chốt quan trọng nhất là phòng bệnh hơn chữa bệnh. Chúng ta hãy phòng bệnh giãn tĩnh mạch bằng các phương pháp rất đơn giản như tránh béo phì, tráng đứng lâu, tránh táo bón và làm tăng sức bền của thành mạch máu bằng tập thể dục, ăn các thức ăn giàu vitamin nhiều chất xơ v.v…

PGS. TS. BS. Nguyễn Hoài Nam, Đại học Y dược TP. HCM

BÀI 2. ĐÔI CHÂN SIÊU MẪU



Chắc chắn không có cô gái nào muốn khoe cặp đùi thon dài trong chiếc váy mini nếu trên bắp chân như có ai nhẫn tâm khảm vài con đỉa ngoằn ngoèo xanh rờn. Không chỉ vì lý do thẩm mỹ, suy yếu tĩnh mạch trước sau vẫn là lý do gây nhiều trăn trở cho phái nữ, đặc biệt cho quý bà vào tuổi mãn kinh, vì khả năng dẫn đến nhiều biến chứng nhiêu khê. Vấn đề vừa đề cập càng trở nên phức tạp hơn nữa khi bệnh lý tĩnh mạch theo thống kê gần đây là bệnh chứng thường gặp ngay cả trên nhiều phụ nữ hãy còn rất trẻ!

Khó tìm được thí dụ nào có giá trị biện luận hùng hồn hơn cấu trúc của tĩnh mạch, nếu muốn tìm một dẩn chứng về tính chất bất bình đẳng giữa nam và nữ. Để đẩy máu về tim cơ thể phải trông cậy vào hai cơ chế có tính hỗ tương. Đó là hệ thống van rải đều bên trong tĩnh mạch có công dụng ngăn không cho dòng máu chảy ngược, và hệ thống bắp thịt nằm dọc tĩnh mạch của chi dưới với chức năng đẩy máu xuôi dòng bằng cách co thắt để tạo sức ép vào thành tĩnh mạch. Nếu vì lý do nào đó, chẳng hạn vì hệ thống van bị suy yếu do bị viêm nhiễm nhiều lần, hay vì bắp thịt co thắt trật nhịp do rối loạn dẫn truyền thần kinh, dòng máu trong tĩnh mạch sẽ trì trệ, nghĩa là chảy chậm hơn vận tốc mong muốn. Trong tình trạng đó, máu dễ bị đóng cục trong mạch và dẫn đến nhiều hậu quả khó lường, từ viêm tấy cho đến tắc tĩnh mạch. Thành mạch máu khi đó khó giữ được cấu trúc khỏe mạnh. Tĩnh mạch đã thế, không như động mạch, lại có rất ít sợi đàn hồi trên thành mạch máu. Tĩnh mạch trên phái yếu, đúng như tên gọi, yếu hơn ở nam giới nhiều. Tĩnh mạch trên chi dưới của các bà, các cô vì thế rất dễ phình dãn khiến đôi chân siêu mẫu dễ dàng mất giá.


Với cơ chế ứ huyết vừa mô tả không có gì khó hiểu khi đôi chân bỗng sưng mỏi sau nhiều giờ đứng bên dàn máy, hay thường gặp hơn nữa, do ngồi bó gối trên máy bay, xe khách... Tình trạng này càng dễ trở thành trầm trọng do khả năng hình thành cục máu đông trong môi trường có nhiệt độ thấp, như biến chứng thường gặp ở người làm việc trong phòng có máy điều hòa không khí. Cục máu đông trong tĩnh mạch không chỉ là nguyên nhân dẫn đến cơn đau như dao cắt. Cục máu đông nếu không may, dù với xác suất tương đối thấp, gây tắc nghẽn trong phổi, hay trên thành tim, thì hậu quả nghiêm trọng đến độ gây tử vong là điều không phải hiếm thấy.

Do đó, phương án điều trị viêm tắt tĩnh mạch với hiệu năng cao nhất chính là biện pháp phòng ngừa, càng sớm càng tốt, thay vì chạy theo triệu chứng, vì không dễ chữa khi bệnh đã thành hình. Câu hỏi thực tế chỉ còn là làm sao biết được hệ thống tĩnh mạch đang bị đe dọa đến mức độ nào? Không khó, chỉ cần thành thật trả lời các câu hỏi dưới đây:

1. Bạn thường bị sưng mỏi đôi chân, nhất là mắt cá chân, hay thậm chí chuột rút, vào buổi tối?

2. Bạn phải thường xuyên làm việc trong tư thế đứng hay ngồi?

3. Bạn đang chơi môn thể thao dễ gây áp lực cho hệ thống tĩnh mạch chi dưới như quần vợt, cầu lông...?

4. Bạn có thể trọng thuộc loại béo phì?

5. Bạn hay mặc quần áo bó sát người và mang giày cao gót?

6. Bạn đang mang bầu hay đã làm mẹ?

7. Bạn đang dùng thuốc có nội tiết tố như thuốc ngừa thai, thuốc trị hội chứng mãn kinh, thuốc điều chỉnh chức năng tuyến giáp...?

8. Bạn vừa trải qua cuộc giải phẫu hay bị chấn thương?

9. Bạn hay thân nhân đã có vấn đề với tĩnh mạch như bệnh trĩ, viêm tắc tĩnh mạch...?

Chỉ cần có Một trong các tiêu chí kể trên thì bạn nên cẩn trọng với chuyến đi xa, khi đi bộ nhiều hay phải ngồi bó gối. Quan trọng hơn nữa, bạn nên tìm đến thầy thuốc chuyên khoa, càng sớm càng tốt, nếu đôi chân đã có lần bị sưng đau ngay sau chuyến du lịch gần đây.

Bên cạnh việc áp dụng các loại tất chun đặc hiệu cho đối tượng đã có vấn đề với tĩnh mạch theo đúng hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa, người muốn phòng ngừa bệnh tĩnh mạch nên lưu ý:

1. Chọn y phục rộng rãi thoải mái, đặc biệt nên tránh các loại quần quá chật.

2. Tránh giày cao gót, giày quá chật để ngừa dòng máu đọng lại ở bàn chân.

3. Uống đủ nước với biện pháp dùng một ly nước mỗi giờ trong ngày, cụ thể từ 7 giờ đến 17 giờ.

4. Giảm hay tốt nhất, bỏ hẳn thói quen dùng cà phê, trà, rượu.

5. Giữ dáng ngồi cho đúng, tránh ngồi tréo chân quá lâu.

6. Đừng quên thỉnh thoảng tập thể dục bàn chân với động tác xoay tròn cổ chân, nhón gót và đứng trên ngón chân ngay trong giờ làm việc.

7. Đi chân đất ít phút trong ngày và ngâm chân trong nước lạnh vài phút mỗi tối.

8. Đừng ngâm chân nước nóng trong giai đoạn viêm tắc tĩnh mạch cấp tính.

9. Chú trọng các món ăn vừa làm bền thành tĩnh mạch, vừa giữ máu loãng như rau diếp cá, dứa, đu đủ, dưa gang...

Cẩn tắc vô áy náy, điều đó càng đúng hơn nữa với hệ thống tĩnh mạch. Làm sao có thể bình thản với cấu trúc mong manh của mạch máu trước áp lực chỉ tăng chứ không giảm của cuộc sống mà chúng ta đang gọi là văn minh!

Thanh Mai

BÀI 3. DAFLON 500 MG



Viên bao 500 mg : hộp 30 viên.

THÀNH PHẦN cho 1 viên

Phân đoạn flavonoide tinh khiết, dưới dạng vi thể : 500 mg
tương ứng : Diosmine : 450 mg
tương ứng : Hespéridine : 50 mg

DƯỢC LỰC

Thuốc trợ tĩnh mạch và bảo vệ mạch máu.

- Về dược lý : Daflon 500 mg có tác động trên hệ thống mạch máu trở về tim :

- ở tĩnh mạch, thuốc làm giảm tính căng giãn của tĩnh mạch và làm giảm ứ trệ ở tĩnh mạch ;

- ở vi tuần hoàn, thuốc làm bình thường hóa tính thấm của mao mạch và tăng cường sức bền của mao mạch.

- Về dược lý lâm sàng : các nghiên cứu mù đôi có kiểm soát trong đó sử dụng các phương pháp cho phép quan sát và đánh giá hoạt tính của thuốc trên động lực máu ở tĩnh mạch đã xác nhận các đặc tính dược lý của Daflon 500 mg trên người.

Tương quan giữa liều dùng và hiệu lực :

Mối tương quan liều dùng/hiệu lực, có ý nghĩa đáng kể về phương diện thống kê, được thiết lập dựa trên các thông số của phương pháp ghi biến đổi thể tích của tĩnh mạch : dung kháng, tính căng giãn và thời gian tống máu. Các kết quả cho thấy rằng tương quan tốt nhất giữa liều dùng và hiệu lực thu được khi dùng 2 viên/ngày.

Tác động trợ tĩnh mạch :

Thuốc làm tăng trương lực của tĩnh mạch : dùng máy ghi biến đổi thể tích cho thấy có sự giảm thời gian tống máu ở tĩnh mạch.

Tác động trên vi tuần hoàn :

Các nghiên cứu mù đôi có kiểm soát cho thấy rằng có sự khác nhau đáng kể về mặt thống kê giữa thuốc và placebo. Ở bệnh nhân có các dấu hiệu mao mạch bị giòn, dễ vỡ, thuốc làm tăng cường sức bền của mao mạch được đo bằng phương pháp đo sức bền của mạch máu (angiosterrométrie).

- Trên lâm sàng : các nghiên cứu mù đôi có kiểm soát cho thấy thuốc có tác động điều trị trong bệnh tĩnh mạch, trong điều trị suy tĩnh mạch mãn tính chi dưới, chức năng và thực thể.

DƯỢC ĐỘNG HỌC

Ở người, sau khi uống thuốc với diosmine được đánh dấu với carbone 14 :

- bài tiết chủ yếu qua phân và bài tiết qua nước tiểu trung bình khoảng 14% so với liều dùng ;

- thời gian bán thải là 11 giờ ;

- thuốc được chuyển hóa mạnh, được ghi nhận qua sự hiện diện của nhiều acide phénol khác nhau trong nước tiểu.


CHỈ ĐỊNH

Điều trị các triệu chứng có liên quan đến suy tuần hoàn tĩnh mạch bạch huyết (nặng chân, đau, chân khó chịu vào buổi sáng sớm).

Điều trị các dấu hiệu chức năng có liên quan đến cơn đau trĩ cấp.

CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG

Cơn đau trĩ cấp : cần phân biệt với các bệnh hậu môn vì thuốc không thể thay thế được các trị liệu chuyên biệt cho các bệnh hậu môn khác. Điều trị ngắn hạn. Nếu các dấu hiệu vẫn dai dẳng, phải khám nghiệm trực tràng và xem xét lại sự trị liệu.

LÚC CÓ THAI

Các nghiên cứu ở động vật cho thấy thuốc không có khả năng gây quái thai. Mặt khác, ở người, cho đến nay không có một tác dụng xấu nào được ghi nhận.

LÚC NUÔI CON BÚ

Do không có số liệu về khả năng thuốc có qua được sữa mẹ hay không, khuyên các bà mẹ không nên cho con bú trong thời gian điều trị.

TÁC DỤNG NGOẠI Ý

Một số trường hợp gặp rối loạn tiêu hóa và rối loạn thần kinh thực vật nhẹ, không cần phải ngưng điều trị.

LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG

Suy tĩnh mạch (đau chân, nặng chân, phù chân, giãn tĩnh mạch, sau viêm tĩnh mạch, vọp bẻ (chuột rút)) : 2 viên/ngày, chia làm 2 lần vào buổi trưa và buổi tối trong các bữa ăn.

Cơn đau trĩ cấp tính : 6 viên/ngày, trong 4 ngày đầu ; sau đó 4 viên/ngày, trong 3 ngày ; duy trì 2 viên/ngày.

Trĩ mạn tính : 2 viên/ngày.

Mạch máu nhỏ – Nỗi khổ lớn

Mạch máu nhỏ – Nỗi khổ lớn

Ở Việt Nam, bệnh lý tĩnh mạch rất thường gặp nhưng chưa thật sự có được sự chú ý của cả thầy thuốc và bệnh nhân. Dù chưa có thống kê đầy đủ về loại bệnh này, song nhiều chuyên gia y tế dự đoán bệnh sẽ gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế và thay đổi nếp sống ở nước ta.
 

Viêm tĩnh mạch sâu cẳng chân – Ảnh: Google.com
Thiệt thòi nghiêng về phía chị em
Máu di chuyển trong lòng tĩnh mạch theo chiều từ nông vào sâu, từ dưới lên trên nhờ hệ thống van mở ra khi máu đi về trung tâm, đóng lại không cho máu chảy ngược và lực hút do hoạt động của cơ hoành, của tim, áp lực âm vùng trung thất cùng lực đẩy do hoạt động của hệ thống cơ.
Di truyền là mẫu số chung cho những bệnh nhân suy tĩnh mạch, chủ yếu do những thay đổi về enzyme trong mô liên kết. Nữ thường bị nhiều hơn nam do ảnh hưởng của nội tiết tố nữ, thai nghén lên thành tĩnh mạch; do phải đứng lâu trong một số ngành nghề đặc biệt như bán hàng, thợ dệt; do khối lượng cơ thấp hoặc dùng giày không thích hợp.
Tăng trọng quá mức cũng là một yếu tố nguy cơ vì lực tác động từ phía trước để hút máu về bị giảm và các dòng trào ngược ly tâm phát sinh do gia tăng áp lực từ ổ bụng. Những bệnh nhân có chế độ ăn kiêng nhiều chất bột, ít chất xơ hay bị táo bón rất dễ bị giãn tĩnh mạch.
Giãn tĩnh mạch
Một thống kê nghiên cứu đa trung tâm do ĐH Y dược TP.HCM thực hiện cho thấy 77,6% bệnh nhân không hề biết về bệnh tĩnh mạch trước đó, hầu hết ít quan tâm, ngại đi khám, thầy thuốc cũng coi nhẹ và bỏ sót các triệu chứng. Trong đó, trên 91% bệnh nhân không được điều trị và 8,7% được điều trị không đúng phương pháp (sử dụng các loại thuốc chữa triệu chứng như Aspirin, lợi tiểu hoặc các loại thuốc đông y).
Các triệu chứng thường gặp trong giai đoạn đầu của bệnh này là phù hai chi dưới, kèm cảm giác nặng chân, bị chuột rút vào ban đêm. Về sau, các triệu chứng nặng dần, xuất hiện các mảng rối loạn dinh dưỡng trên da, các tĩnh mạch giãn dần, nổi ngoằn ngoèo, có thể có những đợt viêm tắc tĩnh mạch với các triệu chứng nhiễm trùng toàn thân như sốt cao, môi khô, lưỡi dơ, tĩnh mạch bị viêm đỏ, bên trong lòng xuất hiện những cục thuyên tắc cứng…
Giai đoạn cuối có thể diễn tiến đến tình trạng giãn to toàn bộ hệ tĩnh mạch, ứ trệ tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng của da chân phía dưới gây viêm loét, nhiễm trùng rất khó điều trị. Cục thuyên tắc cũng có thể tách rời thành tĩnh mạch, đi về tim và gây thuyên tắc động mạch phổi, một biến chứng rất nặng có thể dẫn đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.
Chẩn đoán bệnh này chủ yếu dựa vào khám lâm sàng. Dễ thấy nhất là những đoạn tĩnh mạch bị giãn, ngoằn ngoèo, da đổi màu, rối loạn dinh dưỡng, loét và xuất hiện các u máu. Có thể sờ để biết được độ cứng của phần mềm, đặc biệt là vùng trước xương chày, thậm chí có thể sờ thấy cả một đoạn tĩnh mạch cứng, phù nề, các cục thuyên tắc… Thầy thuốc chuyên khoa có thể đánh giá tình trạng của các van tĩnh mạch hiển trong bằng thủ thuật Schwarz, thủ thuật ho, thủ thuật Trendelenburg và thủ thuật Perthe. Cuối cùng, chẩn đoán bằng siêu âm Doppler màu mạch máu sẽ giúp xác định được những rối loạn huyết động học, tình trạng của các van tĩnh mạch, mức độ giãn của tĩnh mạch và các cục thuyên tắc trong lòng mạch để từ đó có thái độ điều trị đúng đắn.
Phòng ngừa đơn giản hơn bạn tưởng
Để chặn đứng sự trào ngược và làm cho các lực tác động lên dòng chảy của tĩnh mạch được tốt hơn, bệnh nhân nên để chân cao khi nằm nghỉ, tập cơ mạnh hơn, tránh đứng hay ngồi lâu, mang vớ thun hay quấn chân bằng băng thun… Có thể sử dụng băng ép nhằm phục hồi áp suất chênh lệch giữa hai hệ thống tĩnh mạch nông và sâu thông qua hệ thống xuyên, giảm đường kính của lòng tĩnh mạch để tăng khả năng vận chuyển khi nghỉ ngơi cũng như khi gắng sức.
Việc điều trị nội khoa với các thuốc làm bền thành mạch như Daflon, Rutin C, Veinamitol… phần lớn chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu của giãn tĩnh mạch. Có thể sử dụng phẫu thuật (lấy bỏ tĩnh mạch nông bị giãn – phương pháp Stripping và phương pháp Chivas điều trị khá triệt để, tỉ lệ tái phát thấp nhất). Hiện người ta còn áp dụng phương pháp làm lạnh với nitơ lỏng âm 900C để làm nghẹt lòng tĩnh mạch qua một ống thông trong lòng tĩnh mạch, tuy nhiên phương pháp này có tỉ lệ tái phát đến 30%.
Điều trị bệnh suy tĩnh mạch mãn tính đòi hỏi sự kết hợp giữa dùng thuốc, phẫu thuật và tập vật lý trị liệu tại các trung tâm chuyên sâu về bệnh này. Tuy nhiên, mấu chốt vẫn là phòng bệnh. Điều này đơn giản hơn bạn tưởng: tránh béo phì, tránh đứng lâu, tránh táo bón, hít thở sâu và tập thể dục thường xuyên để làm tăng sức bền của thành mạch máu, ăn các thức ăn giàu vitamin, nhiều chất xơ…
PGS.TS.BS NGUYỄN HOÀI NAM(chủ tịch Hội Tĩnh mạch học TP.HCM)
BACSI.com (Theo TTO)

CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH GIÃN TĨNH MẠCH CHÂN TỐT NHẤT


CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH GIÃN TĨNH MẠCH CHÂN TỐT NHẤT
Suy giãn tĩnh mạch chân: Bệnh phổ biến của thế kỷ 21.
Bệnh hay xảy ra ở độ tuổi trên 30, tùy thuộc vào công việc/ nghề nghiêp đòi hỏi ngồi nhiều, đứng lâu, ít vận động như nhân viên văn phòng, tài xế, giáo viên , người bán hàng .v.. Hiện nay, bệnh lý suy giãn tĩnh mạch chân tuy khá phổ biến, nhưng đa số người bệnh không biết mình bị bệnh vì triệu chứng không rõ ràng, dễ nhầm lẫn với những triệu chứng của viêm khớp, đau khớp chân , đau thần kinh - cơ..v…Người bệnh chỉ đi khám khi thấy các triệu chứng đau nhức , tê buốt , phù chân..v…ngày càng nặng hơn ; thậm chí có người để đến giai đoạn biến chứng nặng như loét chân mới đi khám.

1. Nguyên nhân của bệnh lý suy giãn tĩnh mạch chân là gì ?
Nguyên nhân của bệnh suy giãn tĩnh mạch chân có khá nhiều như : yếu tố chủng tộc (bệnh lý này khá phổ biến ở người da trắng & da vàng; nhưng lại rất hiếm gặp ở người da đen), chế độ làm việc phải đứng hoặc ngồi nhiều, mang thai, béo phì, chế độ ăn nhiều thịt và chất bột đường, ít ăn rau - trái cây , thay đổi về enzym trong mô liên kết, do khối lượng cơ thấp hoặc dùng giày không thích hợp .v… và thậm chí sử dụng thuốc ngừa thai cũng là một yếu tố nguy cơ.
2. Triệu chứng của bệnh lý suy giãn tĩnh mạch chân là gì?
Ở giai đoạn sớm, người bệnh thường bị đau chân, nặng chân, nhức mỏi chân khi đứng lâu hoặc ngồi nhiều. Ban đêm, thường bị chuột rút (vọp bẻ), cảm giác tê chân, châm chích như có kiến bò ở vùng cẳng chân…
Ở giai đoạn tiến triển, các triệu chứng giai đoạn sớm nặng dần lên, phù chân sẽ xảy ra khi đứng lâu, ngồi nhiều liên tục hoặc buổi chiều sau một ngày làm việc. Thường thấy phù ở vùng mắt cá chân, bàn chân. có khi phù kín đáo hơn, chỉ cảm thấy khi mang giày dép chật hơn so với bình thường.Vùng cẳng chân xuất hiện chàm da, thay đổi màu sắc da; các tĩnh mạch nông dưới da giãn to ngoằn ngoèo. Giai đoạn sớm chỉ thấy tĩnh mạch nổi li ti nhất là vùng cổ chân và bàn chân.
Ở giai đoạn cuối có thể diễn tiến đến tình trạng giãn to toàn bộ hệ tĩnh mạch, ứ trệ tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng của da chân phía dưới gây viêm loét, nhiễm trùng rất khó điều trị. Có thể xuất hiện cục máu đông trong tĩnh mạch, trôi về tim và gây tắc mạch máu phổi, một biến chứng rất nặng có thể dẫn đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.
3. Làm thế nào để điều trị và phòng ngừa bệnh lý suy giãn tĩnh mạch chân?
Điều trị bệnh lý suy tĩnh mạch mãn tính đòi hỏi sự kết hợp giữa dùng thuốc, vớ ép, tập vật lý trị liệu tại các trung tâm chuyên sâu về bệnh này và cuối cùng là phẩu thuật. Tuy nhiên, mấu chốt vẫn là phòng bệnh bằng cách: tránh béo phì, tránh đứng lâu, tránh táo bón, hít thở sâu và tập thể dục thường xuyên để làm tăng sức bền của thành mạch máu, ăn các thức ăn giàu vitamin, nhiều chất xơ...hạn chế ăn nhiều thịt & chất bột đường
Điều trị suy giãn tĩnh mạch chân
Tỷ lệ người suy tĩnh mạch chân ngày càng tăng cao, đa số bệnh nhân đều không biết mình mắc bệnh, không điều trị kịp thời nên thường tiến triển nặng, khó chữa.
5 tháng nay, chân của chị Thanh Hà, nhân viên thu ngân nhà hàng tại quận 5, TP HCM, có biểu hiện hay bị chuột rút, nhức mỏi về đêm và gần sáng. Nghĩ là mình thiếu canxi nên chị Hà tự ra tiệm thuốc tây mua về uống bổ sung. Thế nhưng chân không có dấu hiệu bớt nhức mỏi mà ngày càng trở nặng. Đến khi các mạch máu nổi li ti ở chân, chị mới đi khám và phát hiện mình bị suy tĩnh mạch chân.
Cũng bị suy tĩnh mạch chân, bà Kim, 57 tuổi ở Đồng Nai lại tưởng mình bị bệnh viêm khớp của tuổi già. Thời gian đầu, bà áp dụng các bài thuốc dân gian, châm cứu, đắp các loại thuốc chữa xương khớp mà mọi người mách bảo. Bệnh không những không thuyên giảm mà da chân dần dần có biểu hiện bị chàm. Bà tiếp tục đi khám và điều trị da liễu.
Bothongkhihuyet-1-1371603833_500x0.jpg
Nếu không điều trị kịp thời, bệnh sẽ tiến triển nặng và khó chữa.
Sau một thời gian điều trị không hiệu quả, chân sưng phù, các tĩnh mạch nổi ngoằn ngoèo, bà mới vào TP HCM để thăm khám. Bà đang chuẩn bị để được phẫu thuật suy giảm giãn tĩnh mạch. "Nếu phát hiện và đi khám sớm hơn, tôi không phải chịu đau nhiều, tốn công, tốn tiền điều trị nhiều như bây giờ", bà Kim cho biết.
Theo các bác sĩ tại Viện Y Dược học Dân tộc, tình trạng bệnh nhân không nhận biết được bệnh của mình, hay có những lầm tưởng với các bệnh xương khớp khác là khá phổ biến. Khi họ đến khám, bệnh đã tiến triển nặng, phải tốn thời gian điều trị lâu dài và tốn kém.
Một số triệu chứng có thể cảm thấy như nhức mỏi, sưng chân, nặng chân, có cảm giác bị bứt rứt sau giờ làm việc; hay bị ê ẩm vào ban đêm, giống như kiến bò; chân thường có hiện tượng chuột rút trước khi đi ngủ. Bệnh thường trở nặng vào chiều tối, sau một ngày làm việc hoặc vào lúc sáng sớm sau khi ngủ dậy. Một số dấu hiệu có thể nhìn thấy như mạch máu mạng nhện, nổi ngoằn ngoèo, phình to, lở loét; rối loạn biến dưỡng da, có biểu hiện chàm da, chân phình to.
Những người có nguy cơ mắc bệnh như người làm việc phải đứng quá lâu hoặc ngồi quá lâu, ít đi lại như nhân viên văn phòng, nhân viên thu ngân, bán hàng, giáo viên, nhân viên y tế, cảnh sát; phụ nữ có thai có nguy cơ suy tĩnh mạch sau sinh từ 3 đến 5 năm. Phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh nhiều hơn nam giới do ảnh hưởng của nội tiết nữ, quá trình thai nghén, sinh nở tác động lên tĩnh mạch.
Trong gia đình có người mắc bệnh, những người có quan hệ huyết thống cũng dễ có nguy cơ mắc bệnh. Người béo phí, ít vận động, tập luyện có nguy cơ mắc bệnh cao. Người càng lớn tuổi sẽ có nguy cơ mắc bệnh càng cao.
Một số thói quen dễ dẫn đến bệnh suy tĩnh mạch như hút thuốc, ít vận động, mặc quần áo quá chật, mang giầy cao gót, chế độ ăn uống ít chất xơ, không đủ dưỡng chất và uống quá ít nước. Ngoài ra, bạn cần có chế độ ăn uống và tập luyện, vận động phù hợp, nên ăn nhiều trái cây, rau xanh, hạn chế các thức ăn có nhiều mỡ, thường xuyên đi bộ, đạp xe đạp, bơi lội...
Giãn tĩnh mạch là bệnh lý có ý nghĩa xã hội khá quan trọng vì bệnh rất thường gặp. Theo các thống kê ở Pháp, bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chiếm đến 1% ở nam giới và 4,5% ở nữ giới tuổi trưởng thành, trong đó có hơn 70% là nữ và khoảng 35% ở những người đang làm việc.
Việc điều trị đòi hỏi phải cân bằng giữa yếu tố thẩm mỹ và hạn chế các tái phát, biến chứng. Nhu cầu này làm phát sinh ngày càng nhiều những phương thức điều trị mới.
Ở Việt Nam, trên thực tế bệnh cũng rất thường gặp nhưng chưa được sự chú ý của cả thầy thuốc và bệnh nhân. Cho đến nay chưa có một thống kê đầy đủ về loại bệnh này. Tuy nhiên theo dự đoán của các chuyên gia y tế, bệnh sẽ gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thay đổi nếp sống ở nước ta.

Những cục thuyên tắc, biểu hiện của suy tĩnh mạch chi dưới.
Ảnh: Sức Khoẻ & Đời Sống
Theo một thống kê nghiên cứu đa trung tâm do Trường đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh chủ xướng: đa số bệnh nhân (77,6%) không hề biết về bệnh tĩnh mạch trước đó. Điều này nói lên thực trạng về bệnh lý tĩnh mạch ở nước ta, trong đó chủ yếu là bệnh nhân ít quan tâm, ngại đi khám, thầy thuốc coi nhẹ và bỏ sót các triệu chứng. Trong đó 91,3% bệnh nhân không được điều trị và 8,7% được điều trị không đúng phương pháp, chủ yếu là sử dụng các loại thuốc chữa triệu chứng như aspirin, lợi tiểu hoặc các loại thuốc Đông y.
Các biểu hiện thường gặp
Biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân giãn tĩnh mạch có thể thay đổi và nhiều bệnh nhân có thể không có hay biểu hiện triệu chứng rất ít. Các triệu chứng biểu hiện chưa rõ tại chỗ tĩnh mạch giãn như đau ngứa hay cảm giác nóng bỏng. Triệu chứng ở chân bị giãn tĩnh mạch như đau chân, mỏi chân, sưng chân. Nữ giới mắc bệnh nhiều hơn nam giới do chịu ảnh hưởng của nội tiết. Nam giới thường có triệu chứng khi búi tĩnh mạch giãn đủ lớn để chèn ép lên các dây thần kinh bản thể xung quanh. Các triệu chứng thường nặng lên khi về cuối ngày, đặc biệt là sau khi đứng lâu.
Giãn tĩnh mạch và suy van trào ngược có thể gây ra những thay đổi ngoài da, thậm chí gây ra những vết loét trên chân, nhưng đây là bệnh lý tương đối lành tính ít gây ảnh hưởng đến tính mạng. Trong số những bệnh nhân loét chân, 17% có suy van trào ngược ở những tĩnh mạch nông.
Phần lớn các bệnh nhân đều bỏ qua các triệu chứng và chỉ phàn nàn chủ yếu do mất tính thẩm mỹ.
Các triệu chứng thường gặp nhất trong giai đoạn đầu là phù hai chi dưới đi kèm với cảm giác nặng, chuột rút về ban đêm, triệu chứng này sẽ bớt khi bệnh nhân kê chân cao buổi tối khi đi ngủ. Về sau các triệu chứng nặng dần và xuất hiện các màng loạn dưỡng trên da và các tĩnh mạch giãn dần, nổi ngoằn ngoèo, có thể có những đợt viêm tắc tĩnh mạch với các triệu chứng nhiễm khuẩn toàn thân như sốt cao, môi khô, lưỡi bẩn… và tại chỗ tĩnh mạch bị viêm đỏ, trong lòng mạch xuất hiện những cục thuyên tắc cứng.

Phù chân, biểu hiện của suy tĩnh mạch.
Ảnh: Sức Khoẻ & Đời Sống
Việc xác định chẩn đoán chủ yếu dựa vào khám lâm sàng bao gồm nhìn thấy những đoạn tĩnh mạch bị giãn, ngoằn ngoèo, da đổi màu, loạn dưỡng, loét và sự xuất hiện của các u máu.Sờ để biết được độ cứng của phần mềm, đặc biệt là vùng trước xương chày, so sánh cả hai bên. Có thể sờ thấy cả một đoạn tĩnh mạch cứng, phù nề, các cục thuyên tắc và xác định nhiệt độ của da. Ngoài ra, có thể áp dụng một số thủ thuật để đánh giá tình trạng của các van tĩnh mạch hiển trong như: thủ thuật Schwarz, thủ thuật ho, thủ thuật Trendelenburg và thủ thuật Perthes.
Cuối cùng, chẩn đoán được xác định bằng siêu âm Doppler màu mạch máu. Phương pháp này cho phép chúng ta xác định những rối loạn huyết động học, tình trạng của các van tĩnh mạch, mức độ giãn của tĩnh mạch và các cục thuyên tắc trong lòng mạch để từ đó có thái độ điều trị đúng đắn.
Tùy theo vị trí và nguyên nhân của tổn thương, bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới được chia làm 4 nhóm gồm:
- Nhóm giãn tĩnh mạch nguyên phát hay còn gọi là giãn tĩnh mạch vô căn: trong nhóm này, ban đầu các tĩnh mạch bị giãn dài ra sau đó các van tĩnh mạch mất dần chức năng.
- Nhóm giãn tĩnh mạch thứ phát, thường do viêm tĩnh mạch. Ở nhóm này các van tĩnh mạch bị mất chức năng trước, sau đó các tĩnh mạch mới bị giãn và dài ra.
- Giãn tĩnh mạch ở người có thai do tác dụng của nội tiết tố sinh dục nữ và chèn ép của tử cung bị to ra khi có thai.
- Giãn tĩnh mạch bẩm sinh, nguyên nhân do bất thường của thành tĩnh mạch làm nghẹt tĩnh mạch sâu và rò động tĩnh mạch (dạng u máu hỗn hợp).
Biến chứng của giãn tĩnh mạch
Trước tiên là các biến chứng về rối loạn huyết động học: cẳng chân bệnh nhân bị sưng to, có triệu chứng đau buốt mặt sau cẳng chân, chuột rút về đêm.
Nặng hơn, bệnh nhân có thể bị viêm tắc tĩnh mạch, chân nóng, sưng đỏ, các tĩnh mạch nông nổi rõ và viêm cứng.
Giai đoạn cuối cùng có thể diễn tiến đến tình trạng giãn to toàn bộ hệ tĩnh mạch, các tĩnh mạch giãn rất lớn, ứ trệ tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng của da chân phía dưới gây viêm loét, nhiễm khuẩn rất khó điều trị.
Cục thuyên tắc có thể tách rời khỏi thành tĩnh mạch, đi về tim và gây thuyên tắc động mạch phổi, một biến chứng rất nặng có thể đưa đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.
Trên thực tế không phải người nào cũng có khả năng bị bệnh này, chỉ có một số người thuộc nhóm có nguy cơ cao là hay bị. Tuy nhiên, bệnh có liên quan đến yếu tố di truyền, có một số người về di truyền dễ mắc bệnh hơn những người khác, nguyên nhân do những thay đổi về enzym trong mô liên kết. Nữ thường bị nhiều hơn nam do ảnh hưởng của nội tiết tố nữ, thai nghén lên thành tĩnh mạch, do phải đứng lâu trong một số ngành nghề đặc biệt như bán hàng, thợ dệt, do khối lượng cơ thấp hoặc dùng giày không thích hợp.
* Tăng trọng quá mức cũng là một yếu tố nguy cơ vì lực tác động từ phía trước để hút máu về tim bị giảm và các dòng trào ngược ly tâm phát sinh do gia tăng áp lực từ ổ bụng.
* Phẫu thuật có thể gây ra biến chứng huyết khối tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch, nhất là những phẫu thuật vùng tiểu khung như phẫu thuật trong sản khoa và niệu khoa, các thủ thuật khác như bó bột, bất động lâu trong gãy xương,… Tuy nhiên gần đây tầm quan trọng của yếu tố nguy cơ này đã giảm bớt.
* Những bệnh nhân ăn theo chế độ ăn kiêng nhiều chất bột, ít chất xơ hay bị táo bón cũng dễ bị giãn tĩnh mạch.

Điều trị chứng giãn tĩnh mạch chân
Bệnh tĩnh mạch không phải lúc nào cũng được chữa khỏi. Đáng tiếc là các van tĩnh mạch bị tổn thương và các tĩnh mạch bị giãn không thể trở về tình trạng bình thường như trước đó được. Hai phương pháp điều trị có hiệu quả là điều trị xâm lấn, tức là các tĩnh mạch bị bệnh được chích xơ hoặc phẫu thuật cắt bỏ và điều trị bảo tồn.
Điều trị bằng áp lực và vai trò của vớ y khoa
Điều trị bảo tồn nhằm cải thiện tình trạng bệnh bằng áp lực, tập thể dục và dùng thuốc. Điều trị bằng áp lực là nền tảng của phương pháp điều trị bảo tồn. Trong vài trường hợp cần phải băng ép khi mới bắt đầu điều trị để làm giảm phù chân. Cả hai phương pháp băng ép và mang vớ y khoa đều hỗ trợ chân và làm giảm đường kính tĩnh mạch, giúp các van tĩnh mạch khép kín trở lại, do đó phục hồi tác dụng của van “một chiều”, tức là ngăn chặn máu chảy xuống phần thấp của chân.
Vớ y khoa được dùng sau điều trị băng ép, hoặc dùng từ đầu để bó chân lại. Vớ y khoa có tác dụng phòng ngừa việc hình thành các tĩnh mạch giãn và giữ cho bệnh tĩnh mạch hiện có không tiến triển thêm. Nếu bệnh tĩnh mạch không được điều trị, nó có thể tiến triển xấu hơn và trở nên mạn tính. Đó là lý do tại sao mang vớ y khoa là đặc biệt quan trọng để phòng ngừa tiến triển xấu hơn cũng như các biến chứng của bệnh tĩnh mạch.
Mang vớ ép áp lực tăng dần vẫn là biện pháp trị liệu đầu tiên cho bệnh lý tĩnh mạch nguyên phát. Phương pháp này tương đối rẻ tiền, ít nguy cơ, có thể cải thiện triệu chứng cơ năng liên quan tới suy van và giãn tĩnh mạch. Chưa xác định được áp lực chính xác là bao nhiêu thì cải thiện lâm sàng. Bất lợi lớn nhất có thể làm cho phương thức điều trị này thất bại là khả năng chấp nhận và dung nạp của bệnh nhân.
Điều trị phẫu thuật
Điều trị phẫu thuật nhằm loại bỏ nguyên nhân gây bệnh, lấy đi búi tĩnh mạch giãn, đồng thời bảo đảm tối đa tính thẩm mỹ. Phương pháp cột tĩnh mạch hiển cao gần chỗ nối mà không lấy bỏ tĩnh mạch hiển có thể có nguy cơ tái phát cao. Do đó điều trị triệt để là giải quyết tình trạng trào ngược cùng với lấy bỏ búi trĩ tĩnh mạch giãn. Các phương pháp điều trị tình trạng trào ngược van tĩnh mạch hiện nay bao gồm: mổ lấy đi các tĩnh mạch giãn bằng phương pháp stripping, đốt nhiệt cao tần, đốt laser nội mạch. Điều trị búi tĩnh mạch giãn bằng mổ bỏ tĩmh mạch giãn tại chỗ (phương pháp Muller), chích xơ tạo bọt (là tiêm vào lòng mạch các chất làm tổn thương nội mạc gây ra sự tắc mạch dần sau đó)

Bạn đã mắc chứng này nếu trên hai bắp chân có nhiều "gân xanh" nổi lên. Đó là những tĩnh mạch nông ở chi dưới bị giãn, phồng lên chằng chịt thành những búi màu xanh nổi cộm dưới da.
Điều trị chứng giãn tĩnh mạch chân
Bệnh giãn tĩnh mạch chân có liên quan đến yếu tố di truyền, nữ thường mắc nhiều hơn nam do ảnh hưởng của nội tiết tố oestrogen và thai nghén (tử cung bị to ra chèn ép lên thành tĩnh mạch). Bệnh cũng liên quan đến một số yếu tố khác: béo phì, ít hoạt động, nghề nghiệp thường phải đứng lâu, dùng giày không thích hợp, mặc quần áo quá chật, nóng.
Về điều trị, có 3 phương pháp. Phổ biến nhất là dùng băng ép nhằm phục hồi áp suất chênh lệch giữa hai hệ thống tĩnh mạch nông và sâu, giảm đường kính lòng tĩnh mạch để tăng khả năng lưu thông máu. Cách thứ hai là dùng các thuốc làm vững bền thành mạch như: daflon, rutin C, veinamitol... hoặc các thuốc làm xơ hóa lòng mạch, tiêm gây xơ tại chỗ. Phương pháp thứ ba là phẫu thuật lấy bỏ các tĩnh mạch nông bị giãn.
Để hạn chế giãn tĩnh mạch chân, bệnh nhân cần lưu ý:
- Mang bít tất thun hoặc một loại băng thun có tính đàn hồi nhằm ép tĩnh mạch nông, giúp cho tuần hoàn máu được tốt hơn.
- Tránh những tư thế gây cản trở máu tĩnh mạch chân lưu thông như ngồi xổm, ngồi vắt chéo chân, hoặc đi giày cao gót. Khi nằm nên kê chân cao 10-15 cm.
- Tập hít thở sâu và làm tăng sức bền của thành mạch máu bằng cách tập thể dục.
- Không nên đứng gần nơi có nhiệt độ cao như bếp than, củi cháy to... Không sưởi chân, ngâm chân vào nước nóng (nước lạnh làm co tĩnh mạch, nóng làm giãn tĩnh mạch).
- Nếu quá béo thì cần giảm trọng lượng. Ăn các thực phẩm giàu vitamin, dùng nhiều chất xơ để tránh táo bón.

Phòng bệnh suy giãn tĩnh mạch chân đúng cách
Không chỉ gây mất thẩm mỹ, căn bệnh này còn gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm cả lưu thông máu kém gây ra cơn đau dữ dội.
Suy giãn tĩnh mạch chân còn gọi là suy giãn tĩnh mạch chi dưới hay suy van tĩnh mạch chi dưới. Đây là hiện tượng suy giảm chức năng đưa máu trở về tim của hệ thống tĩnh mạch nằm ở vùng chân dẫn đến hiện tượng máu ứ đọng lại, gây ra những biến đổi về huyết động và biến dạng tổ chức mô xung quanh. Khi bị suy giãn tĩnh mạch chân, người bệnh có thể có cảm giác như nhức mỏi, nặng chân, phù chân, tê chân, kiến bò, vọp bẻ (chuột rút) về ban đêm... 

Suy giãn tĩnh mạch chân thường gặp ở nữ nhiều hơn ở nam. Bệnh thường gặp ở độ tuổi trên 30, tùy thuộc vào công việc/ nghề nghiêp đòi hỏi ngồi nhiều, đứng lâu, ít vận động như nhân viên văn phòng, tài xế, giáo viên....

Mặc dù là bệnh phổ biến nhưng nhiều người không biết mình bị bệnh vì triệu chứng không rõ ràng, dễ nhầm lẫn với chứng viêm khớp, đau khớp chân....

Không chỉ gây mất thẩm mỹ, căn bệnh này còn gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm cả lưu thông máu kém gây ra cơn đau dữ dội. Đáng lưu ý hơn, đây là căn bệnh ngày càng phổ biến ở giới văn phòng.
Dưới đây là những lời khuyên giúp bạn phòng bệnh suy giãn tĩnh mạch chân đúng cách.
1. Kiểm soát cân nặng
Giảm trọng lượng của bạn là một cách để ngăn ngừa chứng giãn tĩnh mạch. Việc bạn tăng cân sẽ làm tăng áp lực trên chân và là một trong những nguyên nhân chính của chứng suy giãn tĩnh mạch. Việc duy trì một mức cân nặng hợp lý sẽ mang lại lợi ích cho việc phòng chứng suy giãn tĩnh mạch.
2. Giảm thời gian đứng
Cố gắng tránh đứng trong thời gian dài để ngăn ngừa chứng suy giãn tĩnh mạch hình thành. Càng nhiều áp lực dồn lên trên đôi chân của bạn càng gây sức ép lên các tĩnh mạch và có thể gây ra chứng suy giãn tĩnh mạch.
3. Đi tất đặc biệt
Vì bạn không thể tránh đứng hoàn toàn, bạn có thể giúp đôi chân của bạn cảm thấy dễ chịu và giảm bớt áp lực bằng cách đi loại tất chun để cải thiện lưu thông máu.
4. Tập thể dục
Tập thể dục, đặc biệt là đi xe đạp, bơi lội và đi bộ có thể giúp cải thiện lưu thông ở chân và ngăn ngừa chứng suy giãn tĩnh mạch. Ngoài ra, những bài tập tập trung làm thon gọn chân hoặc các bài Yoga cũng rất tốt cho việc phòng và chữa chứngsuy giãn tĩnh mạch chân.

Phòng bệnh suy giãn tĩnh mạch chân đúng cách 1
Ảnh minh họa
5. Cẩn thận với thuốc tránh thai
Nếu bạn là nữ, tránh các loại thuốc tránh thai có hàm lượng estrogen cao. Estrogen với hàm lượng cao đã được chứng minh có thể thay đổi lưu thông máu, góp phần vào sự phát triển của chứng giãn tĩnh mạch.
6. Thay đổi tư thế ngồi
Tránh bắt chéo chân của bạn để ngăn ngừa chứng giãn tĩnh mạch. Việc bắt chéo chân sẽ tạo nhiền áp lực lên đùi, xương chậu, gây kém lưu thông máu, dễ bị tê mỏi và hình thành tình trạng da sần vỏ cam cùng với chúng suy tĩnh mạch.
7. Tạm biệt giày cao gót
Mang giày gót thấp hoặc dép mềm khi có thể và chọn những loại quần áo thoải mái, hạn chế mang giày cao gót và các loại quần bó sát để giữ cho máu lưu thông ở chân không bị tắt nghẽn.
8. Gác chân cao
Đặt một chiếc gối dưới chân của bạn khi bạn ngủ trong tư thế nằm ngửa là một cách khác để tăng cường lưu thông và giảm bớt áp lực trên đôi chân.
9. Chú ý tới các chất chống oxy hóa và chất dinh dưỡng khác
Cung cấp đầy đủ chất chống oxy hóa trong chế độ ăn uống của bạn sẽ giúp duy trì tĩnh một hệ tĩnh mạch mạnh mẽ, khỏe mạnh. Hãy chọn những trái cây họ cam quýt như bưởi, cam… vì chúng chứa nhiều hesperidin, rutin, và diosmin sẽ giúp giảm tình trạng suy tĩnh mạch bằng cách tăng cường sức khỏe của tĩnh mạch. 
Ngoài ra nếu bạn thường xuyên ăn các loại gia vị như gừng, tỏi và ớt cayenne, bạn sẽ phá vỡ các fibrin- nguyên nhân gây tắc nghẽn tĩnh mạch. Điều này giúp hạn chế bệnh suy giãn tĩnh mạch chân khá hiệu quả. 




Nguyên nhân của bệnh giãn tĩnh mạch chân và cách phòng ngừa 
Giãn tĩnh mạch
Tĩnh mạch giãn nở
Phù chân khi mang thai 
Làm sao để hết gân tay cho đôi tay luôn mềm mại 
Giãn tĩnh mạch thừng tinh
Nguyên nhân của bệnh phù chân và cách điều trị nhanh khỏi
Thời kỳ mang thai 



(ST)

Giãn tĩnh mạch chân, bệnh ngày càng phổ biến

Giãn tĩnh mạch chân, bệnh ngày càng phổ biến


Mang vớ để tạo áp lực đẩy máu từ chân về tim tốt hơn. (Ảnh minh họa). Mang vớ y khoa (dạng đùi) khi đi làm vừa giúp tạo áp lực đẩy máu từ chân về tim, vừa tạo thẩm mỹ cho đôi chân của bạn.
Bệnh giãn tĩnh mạch chân là bệnh lý thường gặp ở những người làm việc phải đứng nhiều, đứng lâu, ngồi nhiều, ngồi lâu... Bệnh dễ phát hiện, dễ điều trị.
Tuy nhiên, nếu không được điều trị thì có thể gây hậu quả nặng nề hoặc biến chứng đe dọa cuộc sống.
Chứng giãn tĩnh mạch chânChứng giãn tĩnh mạch chân
Về nguyên tắc, tĩnh mạch là một hệ thống mạch máu của hệ tuần hoàn. Tĩnh mạch sẽ mang máu thiếu ôxy từ cơ quan và mô về tim. Khi đến phổi nó được tái nạp ôxy ở phổi. Trong khi đó, dòng máu trở về tim có xu hướng bị động (yếu hơn dòng máu từ tim đi) và tùy thuộc mức co bóp của các cơ ở tay và chân.
Buổi sáng, một hay cả hai chân bạn cảm thấy bình thường. Tuy nhiên, vào giấc nghỉ trưa hoặc cuối ngày, bạn có cảm giác chân tê tê như kiến bò, kiến cắn, nặng chân, có trường hợp bị tê buốt, đau nhức nếu vẫn tiếp tục đứng, giảm đau hơn nếu nằm nghỉ và gác chân lên cao. Trường hợp suy tĩnh mạch nông thì trên hai bắp chân có nhiều “gân xanh” nổi lên. Đó là những tĩnh mạch nông ở chi dưới bị giãn, phồng lên chằng chịt thành những búi màu xanh nổi cộm dưới da.
Bệnh giãn tĩnh mạch chân có liên quan đến yếu tố di truyền, nữ thường mắc nhiều hơn nam do ảnh hưởng của nội tiết tố oestrogen và thai nghén (tử cung bị to ra, chèn ép lên thành tĩnh mạch). Bệnh cũng liên quan đến một số yếu tố khác: béo phì, ít hoạt động, nghề nghiệp thường phải đứng lâu, dùng giày không thích hợp, mặc quần áo quá chật, nóng...
Hiện nay có ba phương pháp điều trị.
-  Phổ biến nhất là dùng băng ép nhằm phục hồi áp suất chênh lệch giữa hai hệ thống tĩnh mạch nông và sâu, giảm đường kính lòng tĩnh mạch để tăng khả năng lưu thông máu.
- Cách thứ hai là dùng các thuốc làm vững bền thành mạch như daflon, rutin C, veinamitol... hoặc các thuốc làm xơ hóa lòng mạch, tiêm gây xơ tại chỗ. 
- Phương pháp thứ ba là phẫu thuật lấy bỏ các tĩnh mạch nông bị giãn.
Để hạn chế giãn tĩnh mạch chân, bạn cần lưu ý: mang vớ thun (vớ y khoa) hoặc một loại băng thun có tính đàn hồi nhằm ép tĩnh mạch nông, giúp cho tuần hoàn máu được tốt hơn; tránh những tư thế gây cản trở máu tĩnh mạch chân lưu thông như ngồi xổm, ngồi vắt chéo chân hoặc đi giày cao gót; khi nằm nên kê chân cao 10-15 cm; tập hít thở sâu và làm tăng sức bền của thành mạch máu bằng cách tập thể dục; không nên đứng gần nơi có nhiệt độ cao như bếp than, củi cháy to...; không sưởi chân, ngâm chân vào nước nóng (nước lạnh làm co tĩnh mạch, nóng làm giãn tĩnh mạch); nếu bạn quá béo thì cần giảm trọng lượng; ăn các thực phẩm giàu vitamin, dùng nhiều chất xơ để tránh táo bón.
Bệnh suy tĩnh mạch nông
Bệnh suy tĩnh mạch nông (hay giãn tĩnh mạch) là tình trạng tĩnh mạch bị giãn ra, chạy ngoằn ngoèo như hình rắn bò ngay ở dưới da. Bệnh thường thấy ở phụ nữ và hơn một nửa bệnh nhân có tiền sử gia đình bị giãn tĩnh mạch. Khi không phải do huyết khối, phần lớn giãn tĩnh mạch là do bất thường của thành tĩnh mạch hoặc của van trong tĩnh mạch. Các van trong tĩnh mạch giúp cho dòng máu có thể chảy ngược được về tim. Những người béo phì, phụ nữ có thai, đứng quá lâu, hay làm việc ít di chuyển có thể làm gia tăng tình trạng giãn tĩnh mạch.
Thường thì giãn tĩnh mạch không có triệu chứng, tuy nhiên một số bệnh nhân có thể thấy cảm giác nóng, rát, đau. Các triệu chứng này xuất hiện rõ hơn và nặng hơn vào ban ngày lúc bệnh nhân đứng nhiều. Có thể nhưng hiếm, nếu không được chăm sóc tốt giãn tĩnh mạch có thể gây loét da, nhiễm khuẩn da, huyết khối tĩnh mạch và chảy máu thứ phát.
Điều trị giãn tĩnh mạch là tập thể dục, giảm cân và đi vớ y khoa. 
Sau khi rửa mặt vào buổi sáng, bệnh nhân nên trở lại giường để chân cao lên vài phút, sau đó mang vớ y khoa vào. Tối khi nằm ngủ, bạn nên để chân lên cao hơn so với đầu. Việc này được duy trì liên tục, dài lâu đến suốt đời.
Vớ y khoa có tác dụng tạo một áp lực nhất định đã được nhà sản xuất tính toán trước cho từng loại vớ (class 1, 2, 3, 4) lên tĩnh mạch chân, phục hồi sự khép kín của các van tĩnh mạch, do đó phục hồi sự lưu thông máu một chiều như bình thường, giải quyết tình trạng ứ đọng máu ở phần thấp của chân. Ngoài ra, vớ y khoa còn tạo ra độ dốc áp lực làm tăng tốc độ tuần hoàn máu, giảm thiểu nguy cơ hình thành huyết khối do tốc độ dòng máu chảy chậm gây ra. Vớ y khoa tốt phải tạo được độ dốc áp lực thì mới có tác dụng điều trị bệnh suy tĩnh mạch. Độ dốc áp lực là áp lực ép lên tĩnh mạch giảm dần một cách đều đặn dọc theo chiều dài chân, từ cổ chân (áp lực 100%) đến đùi (áp lực 40%).
Tác dụng làm khép van và tạo độ dốc áp lực là hai đặc tính quan trọng nhất của vớ y khoa mà bất kỳ một loại thuốc nào cũng không thể thay thế được. Nếu bỏ qua yếu tố này thì kết quả điều trị rất kém, dù có uống thuốc lâu dài. Điều này rất dễ kiểm chứng với bệnh nhân của bác sĩ, những người đã từng uống thuốc lâu dài từ năm này qua năm nọ. Giá vớ trung bình hiện nay khoảng 550.000 đồng (vớ gối), 880.000 đồng (vớ đùi)... tùy hiệu.

Theo www.phapluattp.vn
Phụ nữ Việt Nam vốn ít bị giãn tĩnh mạch. Nhưng lối sống ít vận động, thói quen ăn uống không cân đối... đang thúc đẩy căn bệnh này gia tăng. Những mạch máu thương tổn nổi ngoằn nghèo trên đôi chân khiến người bệnh phải giã từ những chiếc váy ngắn.
Đến độ tuổi nào, phụ nữ bắt đầu phải đối mặt với bệnh giãn tĩnh mạch?
Sau giai đoạn dậy thì, giới nữ đều có nguy cơ suy tĩnh mạch kèm giãn tĩnh mạch ở đôi chân. Bệnh thường có yếu tố bẩm sinh. Ngoài ra, việc đứng nhiều, tiếp xúc với khí nóng, ít vận động, béo phì, bất động lâu... cũng khiến bệnh nặng hơn. Bệnh biểu hiện chủ yếu vào mùa hè và mùa đông do thời tiết nắng nóng hay do dùng lò sưởi.
Triệu chứng của bệnh có dễ nhận biết không?
Trong thời gian đầu, những lúc phải đứng lâu, bệnh nhân sẽ thấy chân nằng nặng, có cảm giác kiến bò. Đó là hậu quả của việc ứ máu trong tĩnh mạch. Còn khi tĩnh mạch đã bị giãn rồi thì ta có thể nhìn thấy chúng nổi hằn lên dưới da, sờ vào mềm, màu xanh tím, xẹp xuống khi người bệnh nằm và phồng to khi họ đứng lên.
Bệnh này ảnh hưởng tới sức khỏe và thẩm mỹ như thế nào?
Tĩnh mạch tham gia vào vòng tuần hoàn. Máu từ tĩnh mạch sau khi đã lọc các chất độc hại sẽ chảy về phổi để làm giàu ôxy và sau đó tiếp tục tham gia vào vòng tuần hoàn động mạch. Quá trình này phụ thuộc vào hệ thống van chống trào ngược. Trong trường hợp suy tĩnh mạch, các van này không kiểm soát tốt, máu sẽ chảy ra ngoại vi thay vì chảy về phổi.
Bệnh này chỉ liên quan đến mạng tĩnh mạch bề mặt da. Nó làm ứ máu, thiếu ôxy ở các chi dưới, dẫn đến giãn tĩnh mạch. Nặng hơn thì dẫn đến tắc tĩnh mạch bề mặt, chân phù nề, viêm co kéo dưới da, loét chân thường xuyên tái phát... Có khi tĩnh mạch bị vỡ máu, chảy dồn về phần trong cẳng chân hoặc chảy ngoài da.
Quá trình điều trị như thế nào?
Nếu bạn nghi ngờ mình bị giãn tĩnh mạch thì nên đi khám bác sĩ chuyên về mạch hoặc bác sĩ tim. Các bác sĩ sẽ tiến hành khám lâm sàng và siêu âm Doppler để xác định mức độ bệnh và quyết định điều trị bằng phẫu thuật, xơ hóa tĩnh mạch hay chỉ cần đi tất bó sát.
Loại tất này có gì đặc biệt?
Độ co giãn của loại tất này rất cao, sử dụng khi bạn mắc bệnh để ép thành mạch chặt lại và chỉ mang trong một thời gian nhất định chứ không nên sử dụng thường xuyên. Bình thường, bạn phải giữ đôi chân mình luôn thoải mái, thậm chí ngay cả phần cạp tất cũng không được quá chặt, bó nghẹt chân để cho máu lưu thông tốt trong tĩnh mạch.
Thủ thuật xơ hóa tĩnh mạch có phức tạp không?
Phương pháp làm xơ cứng tĩnh mạch là biện pháp thông dụng nhất để điều trị giãn tĩnh mạch nhỏ và trung bình. Kỹ thuật làm là tiêm thuốc nhiều lần làm xơ cứng tĩnh mạch. Một lần điều trị kiểu này thường kéo dài khoảng 10-20 phút, sau đó băng lại chỗ tiêm và giữ băng đó trong 24 giờ.
Với phẫu thuật thì sao?
Có 2 cách; một là lột tĩnh mạch trong khoảng 5-10 phút, áp dụng cho các trường hợp tổn thương tĩnh mạch nông. Hai là phẫu thuật Chivas kéo dài khoảng 10-20 phút, dùng cho trường hợp giãn từng đoạn ngắn. Sau phẫu thuật, người bệnh cần băng ép toàn bộ chi và phải nằm bất động trên giường 3 ngày.
Trong ăn uống, người mắc bệnh giãn tĩnh mạch cần chú ý gì?
Quan trọng nhất là tránh ăn các đồ ăn làm tăng cân. Nên dùng các thực phẩm giàu vitamine E và PP như rau và hoa quả. Ăn uống chế độ nhiều rau xanh và hoa quả tươi để tránh táo bón.
Những lưu ý khác?
Nên thường xuyên nâng cao chân khi có thể, nhất là vào ban đêm. Không nên ở ngoài trời nắng nóng gay gắt. Đi bộ đều đặn và hằng ngày chỉ nên đi giày đế bằng khoảng 1,5 cm, không đi tất quá chật để máu tĩnh mạch về tim dễ dàng.

sotayyhoc.comSuy tĩnh mạch mạn tính chi dưới là bệnh lý rất thường gặp, tỷ lệ người bị ngày càng táng cao. Đa số bệnh nhân đều không biết mình mắc bệnh, không điều trị kịp thời nên thường tiến triển nặng, rất khó chữa. Suy tĩnh mạch mạn tính là tình trạng máu trong các tĩnh mạch bị ứ đọng không thể dẫn đủ trở về tim. Bệnh tiến triển chậm, không rầm rộ, ít nguy hiểm đến tính mạng nhưng gây các triệu chứng khó chịu trở ngại nhiều cho sinh hoạt và công việc hằng ngày, điều trị lâu dài và tốn kém nhất là khi đã có biến chứng như lở loét, tắc mạch.Bắp chân thương có biểu hiện mạch máu mạng nhện

Bình thường máu tĩnh mạch trờ về tim nhờ:
- Lực đẩy từ động mạch qua các mao mạch truyền đến tĩnh mạch và lực hút máu tĩnh mạch về tim do tim co bóp.
- Áp lực âm trong lồng ngực hút máu trở về tim.
- Sự co bóp của các khối cơ cẳng chân ép vào các tĩnh mạch sâu và đẩy máu đi về tim.
- Hệ thống van một chiều trong lòng tĩnh mạch giữ không cho máu trào ngược dòng.
Khi hệ thống van một chiều của tĩnh mạch bị suy, sẽ xuất hiện dòng máu trào ngược dẫn đến tình trạng ứ trệ máu trong lòng tĩnh mạch và làm tăng áp lực tĩnh mạch ở cẳng chân, lâu dần dẫn đến tình trạng suy tĩnh mạch mạn tính.

Những triệu chứng lâm sàng thường gặp của suy tĩnh mạch mạn tính chỉ dưới
— Cảm giác bó chặt ở bắp chân, nhức mỏi, nặng chân, tê chân, cảm giác này thường tăng sau giờ làm việc do đứng hoặc ngồi lâu.
- Hay bị ê ẩm vào ban đêm, giống như kiến bò.
-    Bắp chân thường có hiện tượng chuột rút (vọp bẻ).
-    Sưng phù xung quanh hai mắt cá, thấy rõ vào buổi tối.
-    Bệnh thường trở nặng vào chiều tối, sau một ngày làm việc hoặc sau khi đứng lâu hoặc thời tiết ấm nóng; giảm bớt vào buổi sáng khi ngủ dậy hoặc sau khi nằm nghỉ ngơi, kê chân cao, công việc thường xuyên đi lại.

Những người có nguy cơ mắc suy tĩnh mạch mạn tính chỉ dướỉ
-    Người làm việc phải đứng quá lâu hoặc ngồi quá lâu, ít đi lại như nhân viên văn phòng, nhân viên thu ngân, bán hàng, giáo viên, nhân viên y tế, cảnh sát... Ngồi lâu, tư thế gấp háng hay gấp đầu gối làm giảm dòng máu của chi dưới cũng có thể là yếu tô" nguy cơ.
-    Phụ nữ có thai có nguy cơ suy tĩnh mạch sau sinh từ 3 - 5 năm. Phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh nhiều hơn nam giới do ảnh hưởng của nội tiết nữ, quá trình thai nghén, sinh nở tác động lên tĩnh mạch.
-    Trong gia đình có người mắc bệnh. Những người có quan hệ huyết thống cũng dễ có nguy cơ mắc bệnh.

-    Người béo phì, ít vận động tập luyện, táo bón kinh niên hoặc ăn ít rau xanh, chất xơ, vitamin có nguy cơ mắc bệnh cao.
-    Người càng lớn tuổi thì có nguy cơ mắc bệnh càng cao do thành mạch mỏng dần và độ đàn hồi mạch máu kém hơn người trẻ. Độ tuổi thường mắc bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới là từ 40 — 50 tuổi trở lên. Tuổi càng cao, dãn tĩnh mạch thường trầm trọng hơn.
Một số dấu hiệu có thể quan sát thấy: mạch máu mạng nhện, mạch máu nổi ngoằn ngoèo, mạch máu phình to, lở loét, rối loạn biến dưỡng da, có biểu hiện chàm da, chân phình to.

Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh sẽ tiến triển nặng dần. Theo mức độ tiến triển trên lâm sàng, có thể chia ra 3 thời kỳ như sau:
-    Thời kỳ còn bù: bệnh nhân có cảm giác tức, nặng và mỏi ở chi dưới trong tư thế đứng lâu. Thỉnh thoảng xuất hiện phù nề nhẹ ở cẳng và bàn chân cuối ngày làm việc, khi nằm nghỉ ngơi thì hết phù nề. Các tĩnh mạch nông chân giãn chưa nhiều, lúc giãn lúc không.
-    Thời kỳ gần mất bù: các triệu chứng của thời kỳ còn bù phát triển nặng lên. Khi đi lại, xuất hiện cảm giác đau nhiều  cẳng chân. Cẳng chân và mu chân có hiện tượng nề, tím, các hiện tượng này không mất đi khi bệnh nhân nghỉ ngơi. Các tĩnh mạch nông giãn to thường xuyên.
-    Thời kỳ mất bù: thường xuyên có cảm giác tê chân, ngứa da vùng tổn thương. Đau nhiều ở chân khi đi bộ. Hiện tượng chân bị phù nề, tím... không mất đi khi nghỉ ngơi. Xuất hiện các rối loạn dinh dưỡng và các biến chứng ở chân tổn thương như: viêm da, xơ cứng da, loét...

Nếu không được điều trị tốt, bệnh có thể gây ra các biến chứng sau:
 -        Thiểu dưỡng chân bị giãn tĩnh mạch nông: dẫn tới viêm da, loét, nhiễm trùng, chảy máu tại ổ loét... làm mất khả năng lao động của bệnh nhân, thậm chí có khi phải cắt cụt chân.
—      Viêm nghẽn các tĩnh mạch sâu làm cho bệnh diễn biến nặng hơn, có trường hợp tạo nên cục huyết khối di chuyển lên tim và gây thuyên tắc động mạch phổi dẫn tới tử vong đột ngột.

Để phòng ngừa suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới
• Thay đổi thói quen sinh hoạt và công việc hằng ngày: tránh đứng lâu hoặc ngồi bất động kéo dài, người làm việc văn phòng, đi ô tô hay máy bay đường dài thì phải gấp duỗi chân từng lúc cho máu lưu thông, hoặc nên tranh thủ đi lại giải lao khoảng 30 - 60 phút/ lần. Trong lúc ngồi làm việc, có thể phối hợp tập các bài tập vận động chân như: co duỗi các ngón chân, gập duỗi cổ chân, nhón gót... để máu lưu chuyển tốt hơn. Tập thể dục bằng cách đi bộ nhanh, vừa đi vừa nghỉ, gác chân cao cũng tốt cho bệnh tĩnh mạch. Nên uông nước nhiều, ăn tăng cường các loại rau quả, trái cây tươi giúp bổ sung chất xơ và nhiều loại vitamin làm bền thành mạch, chống táo bón (rặn thường xuyên cũng làm tăng áp lực lên các tĩnh mạch dưới thấp, lâu ngày dẫn đến trĩ và dãn tĩnh mạch chân), giảm cân khi thừa cân (BMI > 23kg/m2)
Phòng ngừa và điều trị chống các biến chứng nguy hiểm
 Mang vớ áp lực: đeo liên tục ban ngày. Cơ chế tác dụng của vớ áp lực rất đơn giản: khi mang vớ với áp lực phù hợp, các van tĩnh mạch bị dãn sẽ khép kín trở lại, hạn chê máu ứ trệ chảy ngược và cải thiện dòng hồi lưu tĩnh mạch, giảm phù nề. Ớ phụ nữ có nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu, vớ áp lực có thể giúp đề phòng biến chứng này vì giữ cho dòng máu lưu thông. Ngược lại, phụ nữ mắc bệnh đái tháo đường có các vấn đề thần kinh ở chân (bệnh thần kinh ngoại biên) không được mang vớ áp lực vì cản trở sự tưới máu cho thần kinh và cơ. Việc lựa chọn vớ tùy thuộc vào bệnh tĩnh mạch của bạn nặng nhẹ ra sao và lan rộng đến đâu, cần một áp lực như thế nào để không bị ứ đọng máu ở chân. Thông dụng nhất là các vớ dài từ ngón chân đến đầu gôi hoặc đến giữa đùi (có thể vừa mang vớ vừa tự thực hiện các bài tập như hình hướng dẫn).
•  Việc điều trị nội khoa được đề ra là dùng các thuốc làm bền thành mạch (Daflon, Rutin c,...). Nhưng phần lớn chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu của giãn tĩnh mạch.
•  Củng có thể dùng phương pháp xâm lấn: tiêm gây xơ tại chỗ với các thuốc làm xơ hóa lòng mạch máu, áp dụng cho các giãn tĩnh mạch nhỏ dạng lưới và khu trú. Nếu dãn tĩnh mạch quá nặng phải can thiệp phẫu thuật cắt bỏ một số đoạn tĩnh mạch hoặc các búi tĩnh mạch giãn, sửa van tĩnh mạch , tạo hình tĩnh mạch qua da để đề phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm.
BS. LÝ MINH ĐẠO